Chủ Nhật, 8/3/2026, 11:08 (GMT+1)

Sáp nhập đại học: Cú hích cho một hệ thống mạnh hơn

Việt Nam – Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc được coi là lớn nhất từ trước tới nay, với khoảng 140 trường đại học công lập nằm trong diện sáp nhập, sắp xếp hoặc giải thể nhằm khắc phục tình trạng manh mún, phân tán nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh.​ Từ chỗ chỉ có 101 cơ sở vào năm 1987, đến nay Việt Nam đã có 264 trường đại học, trong đó 173 trường công lập, nhưng sự gia tăng nhanh về số lượng không đi kèm cải thiện tương xứng về chất lượng, dẫn tới tình trạng nhiều trường nhỏ, ngành đào tạo trùng lặp, cơ sở vật chất yếu và năng lực nghiên cứu hạn chế.​ Không ít trường tồn tại chủ yếu nhờ ngân sách, tuyển sinh khó khăn và hoạt động cầm chừng, khiến yêu cầu sắp xếp, tinh gọn trở thành đòi hỏi tất yếu thay vì lựa chọn mang tính thử nghiệm.

Chủ trương tái cấu trúc được thể chế hóa qua các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ, trong đó nhấn mạnh việc tinh giản đầu mối, xóa bỏ tầng nấc trung gian và tăng hiệu quả quản trị, coi đây là điều kiện để hình thành những đại học đủ tầm khu vực và quốc tế.​ Lãnh đạo ngành giáo dục đánh giá đây là thời cơ bứt phá, cảnh báo rằng nếu bỏ lỡ, giáo dục đại học Việt Nam sẽ tiếp tục chậm nhịp so với các nền giáo dục trong khu vực.​ Tuy vậy, việc sáp nhập không chỉ đơn giản là cộng dồn cơ học các trường, mà đòi hỏi một tầm nhìn dài hạn về mô hình đại học, cơ chế vận hành và văn hóa học thuật.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy Việt Nam không phải là quốc gia tiên phong trong làn sóng sáp nhập đại học, mà đang đi theo xu thế đã được thử nghiệm ở nhiều nước.​ Tại Trung Quốc, trong giai đoạn 1996-2001, chính phủ đã tiến hành sáp nhập 385 trường đại học để tạo nên các đại học đa ngành, tổng hợp với quy mô lớn hơn, từ đó tập trung nguồn lực cho đào tạo và nghiên cứu.
Hàn Quốc cũng đang triển khai các kế hoạch tái cấu trúc hệ thống đại học trong bối cảnh khủng hoảng dân số, lượng sinh viên sụt giảm khiến nhiều trường đứng trước nguy cơ không thể duy trì hoạt động nếu giữ nguyên mô hình cũ.

Ở các quốc gia này, mục tiêu của sáp nhập không chỉ dừng lại ở việc giảm số lượng đầu mối quản lý, mà còn nhằm xây dựng những đại học có thương hiệu toàn cầu, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, đào tạo và nhu cầu của nền kinh tế.​ Các trường sau sáp nhập thường được định hướng phát triển theo mô hình đa ngành, tăng cường liên kết giữa các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật, kinh tế, xã hội và nhân văn để tạo ra các cụm nghiên cứu mạnh.​ Khi nguồn lực được dồn lại, các đại học có điều kiện đầu tư phòng thí nghiệm, đội ngũ giảng viên chất lượng cao, cũng như hệ thống hỗ trợ sinh viên tốt hơn, qua đó nâng sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

Đối với Việt Nam, sáp nhập đại học được kỳ vọng sẽ giúp khắc phục tình trạng trùng lặp chương trình đào tạo, mở ra cơ hội xây dựng các ngành học mũi nhọn thay vì dàn trải theo phong trào.​ Việc gom các trường nhỏ lại trong một cấu trúc lớn hơn có thể tạo thuận lợi cho người học tiếp cận môi trường đào tạo bài bản, với chuẩn đầu ra và hệ thống tín chỉ được thiết kế khoa học hơn.​ Các cơ sở sau sáp nhập, nếu được trao quyền tự chủ thực chất, có điều kiện chủ động hơn trong hợp tác quốc tế, thu hút giảng viên giỏi và triển khai những đề tài nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao.

Thắng Nguyễn

Bình luận 0

Chưa có bình luận nào.

Khám phá thêm từ ketnoi.de

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc